Các dung dịch bơm rửa hiện đang đ]ược sử dụng trong quá trình bơm rửa và tạo hình có thể chia thành hoạt chất kháng khuẩn và khử canxi hoặc kết hợp cả hai.
Bao gồm: Natri hypochlorite (javen – NaOCl), chlorhexidine, axit ethylenediaminetetraacetic (EDTA), hỗn hợp của tetracycline, một loại axit và chất tẩy (MTAD).
Natri hypochlorite (NaOCl)
Natri hypochlorite (chất tẩy rửa nội trợ) là dung dịch bơm rửa ống tủy được sử dụng phổ biến nhất.
Nó là loại chất sát trùng, bôi trơn được pha loãng với nồng độ từ 0,5% tới 5,25%.
Clo tự do trong NaOCl hòa tan mô sống và mô hoạt từ bằng cách phá vỡ protein thành các amino axit.
Giảm nồng độ dung dịch làm giảm độc tính, giảm tác dụng kháng khuẩn và khả năng hòa tan mô.
Tăng thể tích hoặc làm ấm dung dịch làm tăng hiệu quả bơm rửa.
Ưu điểm của NaOCl bao gồm khả năng hòa tan chất hữu cơ có mặt trong hệ thống ống tủy và chi phí tiết kiệm.
Nhược điểm chính của dung dich bơm rửa này đó là độc tính của nó khi đi vào mô quanh cuống, mùi vị khó chịu, khả năng tẩy quần áo và khả năng ăn mòn kim loại.
Hơn nữa, nó không thể diệt tất cả các loại vi khuẩn (12, 16-18) cũng như loại bỏ tất cả lớp mùn ngà.
Nó cũng ảnh hưởng tới đặc tính của ngà răng.
Kết quả của nghiên cứu in vitro gần đây cho thấy nồng độ bơm rửa hiệu quả nhất là 5,25% trong 40 phút, trong khi đó dung dịch bơm rửa với nồng độ 1,3% và 2,5% cùng khoảng thời gian không có hiệu quả trong việc loại trừ E.faecalis trong trụ ngà bị nhiễm khuẩn.

Dựa trên kết quả của nghiên cứu này, các tác giả đưa ra khuyến cáo sử dụng thêm các dung dịch bơm rửa khác để tăng hiệu quả kháng khuẩn trong suốt quá trình làm sạch và tạo hình ống tủy.
Natri hypochlorite thường được dùng ở dạng hoạt động trên lâm sàng. Để đạt được trọn vẹn hoạt tính kháng khuẩn, nó phải ở trạng thái mới nhất trước khi sử dụng.
Tuy nhiên trong phần lớn các trường hợp, nó thường được bán trong chai lớn và bảo quản ở nhiệt độ phòng khi có cơ hội tiếp xúc với oxy trong thời gian dài.
Dung dịch tiếp xúc thời gian dài với oxy, nhiệt độ phòng và ánh sáng có thể khử hoạt tính đặc trưng của nó.
Sự rò rỉ NaOCl ra mô quanh cuống có thể gây nên tổn thương nghiêm trọng cho bệnh nhân.
Để giảm thiểu tai nạn do NaOCl, kim bơm rửa phải đặt ngắn hơn chiều dài làm việc, hơi lỏng trong ống tủy và dung dịch phải được đưa vào nhẹ nhàng.
Liên tục đưa đầu kim lên và xuống trong suốt quá trình bơm rửa ngăn chặn việc mắc kim trong ống tủy và giúp bơm rửa tốt hơn.
Sử dụng đầu kim bơm rửa với lỗ mở bên thân kim giảm khả năng đẩy dung dịch vào mô vùng cuống.
Điều trị những ca tai nạn với NaOCl bằng cách giảm đau và theo dõi thường xuyên bệnh nhân cũng như kê thuốc kháng sinh và giảm đau.
